Việt Nam: phát triển kinh tế vùng sông Mekong mở rộng nhưng không đánh đổi môi trường và phí tổn xã hội

0

Diễn đàn về Nước, Lượng thực và Năng lượng năm 2018, sự kiện chia sẻ kiến ​​thức lớn nhất thường niên tại Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, được tổ chức vào ​​đầu tháng 12 tại Myanmar, dự kiến ​​sẽ cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức phi chính phủ, khu vực tư nhân và các cơ quan phát triển ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước khu vực sông Mê Kông, bằng chứng dựa trên nghiên cứu để họ có thể quyết tâm hơn trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng không phải là chi phí xã hội và môi trường.

Với chủ đề “Phát triển kinh tế và các dòng sông tại Tiểu vùng Mê Kông mở rộng”, diễn đàn năm 2018 sẽ tập trung vào những thách thức về xã hội, kinh tế và môi trường có thể được giải quyết thông qua các giải pháp đã được thử nghiệm, kiến ​​thức mới do nghiên cứu tạo ra, đối thoại đa ngành, đa phương.

                        Diễn đàn Tiểu vùng Mê Kông mở rộng tại Myanmar 2018

Năm chủ đề của Diễn đàn GMF 2018 bao gồm “Các hành lang kinh tế”, “Sự đa dạng, các dòng sông và sự phát triển”, “Những đóng góp liên quan đến nước, lương thực và năng lượng”, “Biến đổi năng lượng” và “Quản trị sáng tạo”. Trên cơ sở các chủ đề này, các nước, tổ chức thành viên sẽ phối hợp Ban Tổ chức đăng ký và thực hiện các hội thảo chuyên đề nhằm làm rõ hơn về quản lý nguồn nước, xây dựng thủy điện, bảo tồn sinh thái và nguồn lợi thủy sản ở lưu vực sông Mê Kông. Tại diễn đàn GMF năm nay, Viện Quy hoạch Thủy lợi Việt Nam sẽ có một hội thảo chuyên đề về quản lý và chia sẻ nguồn nước sông Mê Kông để bảo vệ môi trường và đảm bảo nguồn nước an toàn và nguồn lợi thủy sản bền vững.

Những thách thức từ biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế xã hội

Theo Viện Quy hoạch Thủy lợi của Việt Nam, trong Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, có nhiều thách thức phát sinh từ biến đổi khí hậu và thiên tai, hoặc phát sinh từ phát triển kinh tế xã hội.

Lưu vực sông Mê Kông, đặc biệt là khu vực hạ lưu, dễ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu. Những thay đổi trong chế độ dòng chảy và thủy triều sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ xâm nhập mặn ở các vùng đồng bằng phía hạ lưu, đặc biệt là trong những năm khô hạn.

 

                                           Lưu vực sông sông Mê Kông

Hiện tượng tăng mực nước biển và xâm nhập mặn cũng đang gia tăng. Đồng bằng sông Cửu Long được coi là một trong ba vùng đồng bằng lớn bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi sự xâm nhập mặn. Theo kịch bản biến đổi khí hậu trong năm 2016, nếu mực nước biển dâng cao hơn 100 cm mà không có bất kỳ phản ứng khắc phục nào, điều đó có nghĩa là 38,9% đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam sẽ có nguy cơ bị ngập trong nước.

Ngoài những thách thức tự nhiên, hành động của con người có ảnh hưởng lớn đến sông Mekong. Việc xây dựng các hồ chứa nước và các trạm thủy điện trên dòng chính sông Mê Công, đặc biệt là ở thượng nguồn, không chỉ thu hút sự chú ý của khu vực mà còn của các chuyên gia trên toàn thế giới.

Việc xả các hồ chứa ở thượng nguồn sông Mê Kông ở Trung Quốc vào đầu mùa lũ và tích tụ nước vào đầu mùa khô đã dẫn đến sự gia tăng các xu hướng dòng chảy trong những tháng đầu mùa lũ và giảm những tháng đầu mùa khô. Do sự thay đổi thời tiết từ hiện tượng El Nino, toàn bộ lưu vực sông Mê Kông phải chịu đựng một mùa khô rất nghiêm trọng trong giai đoạn 2015-2016, trong đó đồng bằng sông Cửu Long đã trải qua những tác động nghiêm trọng nhất của hạn hán. Lưu lượng dòng chảy sông vào đồng bằng sông Cửu Long ở mức thấp kỷ lục trong 100 năm qua.

Tác động của dòng thác thủy điện dòng chính có thể dẫn đến giảm 50% tổng sản lượng đánh bắt cá cho cả Việt Nam và Campuchia. Các đập trên các nhánh sông cũng sẽ làm suy giảm sản lượng khai thác cá trong khu vực. Điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến an ninh lương thực, sinh kế, phúc lợi xã hội và kinh tế của hầu hết những người sống ở vùng đồng bằng Campuchia và Đồng bằng sông Cửu Long, những người phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào nghề cá và các ngành nghề liên quan khác.

Đa dạng sinh học trong khu vực cũng đã bị ảnh hưởng, bao gồm cả nguy cơ giảm số lượng loài cá và thậm chí sự tuyệt chủng của một số loài (khoảng 10% trong tổng số loài). Các tác dụng phụ khác đã làm giảm số lượng cá di trú.

James Borton, nhà nghiên cứu thuộc Chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Stimson và là phóng viên kỳ cựu với hơn 25 năm kinh nghiệm ở Đông Nam Á, gần đây đã tuyên bố rằng “vựa lúa” màu mỡ của Việt Nam đang bị đe dọa bởi biến đổi khí hậu và đập Trung Quốc.

Một kỳ quan nông nghiệp, đồng bằng sông Cửu Long sản xuất một nửa lượng gạo của Việt Nam, nhưng bây giờ phải đối mặt với những thách thức môi trường ngày càng tăng. “Các đập thượng nguồn do Trung Quốc xây dựng là thủ phạm chính, mặc dù thời tiết thay đổi, xâm nhập mặn, suy giảm đa dạng sinh học, mực nước biển dâng và ô nhiễm công nghiệp đều góp phần đe dọa đến sinh thái vùng đồng bằng, lịch sử bát gạo màu mỡ hơn 20 triệu người dân ở miền Nam Việt Nam và đóng góp lớn vào kinh doanh xuất khẩu gạo lớn của đất nước, hiện đang nắm giữ một phần năm tổng số thị trường xuất khẩu thế giới, “ông nói. /.